Hiện nay, ngày càng có nhiều các bạn trẻ Việt Nam đi du học tại Nhật, hay người đã đi làm vì muốn thay đổi cuộc sống nên tạm xa gia đình để sang một đất nước mới mưu sinh. Để sống, học tập và làm việc ở đây thì trước sau mọi người cũng phải học ít tiếng Nhật để hỗ trợ bản thân trong sinh hoạt hàng ngày cũng như để tạo cơ hội cho tương lai sau này. Tiếng Nhật ai cũng biết là khó nhưng khi đã tự đưa mình vào một môi trường mà đi đâu cũng nhìn thấy Hán tự, nghe đâu cũng thấy tiếng Nhật thì chẳng mấy những kiến thức căn bản, những câu cửa miệng như xin chào, cảm ơn, hỏi đường chỉ còn là chuyện đã qua.

Tuy nhiên, khi sang đây, sống và tiếp cận với những người bản địa thì dù đã học ở cấp độ nào thì bạn cũng có thể nhận thấy văn nói của người Nhật khác đáng kể so với những gì bạn đã học qua sách vở. Sự thêm bớt âm tiết để làm cho luồng câu trở nên tự nhiên hơn, việc thay đổi cách phát âm của một số trạng từ như と(tô) thành って (..tê) khi trích dẫn, việc sử dụng của nhiều từ ghép mà chỉ áp dụng được ở Nhật như 終電 (shuuden), ý chỉ chuyến tàu điện cuối cùng trong ngày, việc vận dụng một cách tràn lan của những từ mượn của tiếng nước ngoài…v.v. Thực sự mà nói tiếng Nhật cũng như tiếng Việt vậy, khi nói chuyện bình thường cũng thể hiện được những sự biến tấu trong ngữ pháp như sự ví von, so sánh, nói quá, nói giảm, nói tránh, thể hiện sự ngập ngừng, không chắc chắn, hay nói ra những điều bất kính, nghi ngờ, nói bóng gió. Điểm khác nhất khiến cho người học tiếng Nhật ít được tiếp cận với những vấn đề này là do văn hóa của người Nhật Bản khác với Việt Nam. Khi quan hệ không quá thân mật, người Nhật thường nói chuyện theo thể lịch sự, dùng kính ngữ, ngữ pháp tiêu chuẩn, nhất là với người nước ngoài. Đây là tiếng Nhật mà người mới học tiếng Nhật biết đến và cũng là lý do desu, masu được dạy đầu tiên trong sách giáo khoa tiếng Nhật thay vì thể cơ bản chiểu theo từ điển của các động từ. Khi quan hệ không quá thân mật, người Nhật sẽ tỏ ra rất tốt bụng và ít khi thể hiện sự bất đồng ý kiến một cách trực tiếp để tránh làm tổn thương đến tâm lý của người nghe. Đây là nguyên nhân vì sao bạn ít khi thấy được những mặt còn lại của người Nhật, cũng như tiếng Nhật.

Dĩ nhiên, theo quan điểm là sử dụng tiếng Nhật trong môi trường công việc, nhất là khi ở Việt Nam thì việc không biết về những điểm trên không có gì là bất lợi. Điểm đáng nói ở đây là bản chất tiếng Nhật thông dụng khác với tiếng Nhật được dạy trong sách vở nhiều và do thiếu sự hợp tác từ cả hai phía (Việt Nam, Nhật Bản) trong việc tạo dựng những tài liệu đầy đủ hơn để mô tả cách sử dụng từ vựng cũng như ngữ pháp trong những hoàn cảnh cụ thể dẫn đến việc người học mắc lỗi khi sử dụng tiếng Nhật. Lấy ví dụ một cách cụ thể hơn, tiếng Nhật chia sẻ với tiếng Việt việc hình thành và phát triển từ tiếng Trung và Hán tự khiến cho nhiều từ ghép của tiếng Nhật, khi dịch ngang bằng Hán tự ra tiếng Việt có thể cho rất nhiều từ có cùng cách phát âm với tiếng Việt hiện đại. Ví dụ như 無理 (mư ri), dịch từng chữ theo Hán-Việt thì sẽ được từ “Vô lý”. Trong tiếng Việt, “Vô lý” thường được dùng để mô tả những tình huống không mang tính logic, suy diễn theo chứng cứ, trình tự là việc không thể xảy ra được và nhìn chung là ít khi được nhắc đến. Trong tiếng Nhật, ngoại trừ ý như trên, “Vô lý” còn được dùng để mô tả những tình huống như yêu cầu một điều gì đấy khó (nhưng không phải không thể), hoặc chỉ đơn giản là làm phiền người nghe. Điều này dẫn đến việc từ “Vô lý” được sử dụng thường xuyên trong những câu cảm thán, hay lời xin lỗi. Ví dụ như thay vì nói “Cái này tôi không làm được (không muốn làm, không chấp thuận, không đồng ý, từ chối)”, thì sẽ nói “Cái này là vô lý”. Hay thay vì nói “Xin lỗi vì đã gây khó cho (làm phiền) anh”, thì sẽ nói “Xin lỗi vì đã làm điều vô lý”.

Tương tự như trên, có rất nhiều từ vựng mà có thể dịch trực tiếp thành từ có trong tiếng Việt hiện đại thông qua việc dịch cách phát âm Hán tự, nhưng bản chất ý nghĩa của từ đấy, trường hợp có thể sử dụng được, trường hợp không thể sử dụng được thì không hề được nhắc đến. Có thể từ ngày xưa khi những từ này được tạo ra và sử dụng, có lẽ ý nghĩa và cách sử dụng cũng không khác nhau mấy. Nhưng qua thời gian, những biến động của lịch sử, do ảnh hưởng của văn hóa, việc vận dụng của những từ này thay đổi tùy theo con người của từng đất nước. Thế nên khi nghe người Nhật nói tiếng Nhật, nếu cứ hiểu tiếng Nhật theo cách hiểu tiếng Việt của người Việt Nam thì đôi khi sẽ cảm thấy giật mình nếu chưa quen. Sẽ nhìn thấy được hiện tượng này một cách rõ ràng hơn nếu suy nghĩ theo hướng ngược lại, thay vì hiểu tiếng Nhật bằng cách dịch ngang sang tiếng Việt, hãy thử xem khi người Nhật sử dụng tiếng Anh với cách tư duy theo tiếng Nhật thì sẽ như thế nào (Lấy ví dụ bằng tiếng Anh thay vì tiếng Việt vì văn hóa hai nước khác nhau nhiều hơn và lượng người Nhật sử dụng tiếng Anh cũng nhiều hơn người sử dụng tiếng Việt).
Ví dụ sau khi trao đổi một điều gì đấy và muốn hỏi “(còn) có vấn đề gì không”, thì người Nhật sẽ nói “問題がありませんか” hay “問題ない” và nhấn giọng ở cuối câu. Thế nhưng khi một người Nhật không thạo tiếng Anh hoàn toàn nói ý tương tự bằng tiếng Anh thì sẽ thành “Is there a problem?” và nhấn giọng ở cuối câu. Cách nói này trong văn hóa bản địa thì có phần xấc xược, thiếu sự tôn trọng người nghe.
Sự khác nhau về văn hóa dẫn đến sự khác nhau trong việc vận dụng ngôn ngữ. Có những điều bạn nghe, nếu hiểu theo ý tiếng Việt đôi khi sẽ thấy lạ, giật mình, thiếu sự tôn trọng nhưng thực tế người nói không có ý gì cả. Ngay cả việc nói dối, giả vờ nhiệt tình, tốt bụng trước mặt nhưng thực lòng không hề suy nghĩ như điều mình nói ra hay còn gọi là 建前 (ta tê ma ê) cũng là một phần văn hóa của người Nhật. Họ hiểu, nhận thức được bản chất của việc này nhưng vì nó là việc xảy ra hàng ngày, thậm chí được cho là cần thiết khi tiếp khách nên không hoàn toàn phê phán.

Ngày nay, tiếng Nhật đang thay đổi liên tục. Ngày càng có nhiều từ nước ngoài được du nhập vào Nhật và được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Trong khi đó nhiều từ ở Nhật dần dần bị loại bỏ gần như hoàn toàn, không được sử dụng hoặc sử dụng khác với bản chất ban đầu. Ví dụ nhu từ ご飯 (gô han), có nghĩa là cơm, nhưng bây giờ chỉ còn nghĩa chỉ một bữa ăn trong ngày. Còn để nói đến “cơm” thì chỉ có thể dùng từ ライス (ra i su hay “rice” trong tiếng Anh). Khi bạn vào quán ăn hỏi xin thêm ご飯 thì người phục vụ sẽ không hiểu ý bạn muốn gì. Không chỉ có từ mượn của nước ngoài, do sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật cũng có nhiều từ ghép tiếng Nhật được tạo ra cho phù hợp với thuật ngữ chuyên ngành. Có những từ bạn không thể tra ra từ từ điển mà phải tìm trên mạng và đọc trực tiếp lời giải thích bằng tiếng Nhật. Có lẽ tầm 20 đến 30 năm sau, tiếng Nhật sẽ khác nhiều so với bây giờ. Khi ấy người học tiếng Nhật chỉ có thể hy vọng trong công tác đối ngoại, người Nhật vẫn giữ phần nào văn phong và cách nói chuyện như đã phổ biến trong sách vở.

 

Trong vài năm gần đây, ngày càng có nhiều sự hợp tác giữa các doanh nghiệp Nhật và Việt Nam cũng như trao đổi về văn hóa giữa hai đất nước. Tuy khoảng cách về vị trí địa lý giữa Nhật và Việt Nam không gần như các nước Đông Nam Á, do nhiều yếu tố về lịch sử cũng như sự phổ biến của văn hóa Nhật Bản trên thế giới, người dân Việt Nam, nhất là giới trẻ Việt Nam ngày càng tiến gần hơn với việc tiếp cận văn hóa Nhật Bản.

Từ đấy việc học tiếng Nhật cũng trở nên phổ biến hơn. Nếu như ngày trước hầu hết những người học tiếng Nhật là thông qua việc chọn ngành khi thi vào khoa ngoại ngữ của trường đại học hay một số tiền nhân đi trước trong việc tiếp cận văn hóa Nhật Bản thì ngày nay, bên cạnh học vì sở thích, số lượng người học tiếng Nhật do yếu tố kinh tế thị trường, để tìm một con đường mới cho tương lai ngày một nhiều. Số lượng người tham gia học tiếng Nhật ở các trung tâm ngoại ngữ cũng như số lượng trung tâm tiếng Nhật được mở ngày một gia tăng. Thành viên đến học ở các trung tâm này không chỉ có các bạn trẻ mà còn có rất nhiều người đang đi làm cho các công ty Nhật đã mở văn phòng ở Việt Nam, hay có dự định như vậy trong tương lai.

Rõ ràng việc học tiếng Nhật đã trở nên rất thịnh hành. Tuy nhiên, có phải ai cũng thành công trong việc học tiếng Nhật và cụ thể hơn như thế nào thì có thể coi là thành công? Đây là một vấn đề khó có thể mô tả cụ thể được. Những ai đã từng đi học ở các trung tâm tiếng Nhật hẳn đều nhận thấy số lượng các lớp sơ cấp nhiều hơn nhiều số lượng các lớp trung cấp và chỉ có 1 đến 2 lớp cao cấp hoặc không có lớp nào, thay vào đấy là các lớp luyện thi JLPT.

Đọc đến đây bạn hẳn sẽ nghĩ học tiếng Nhật rất khó. Nhưng liệu có khó hơn học tiếng Anh không? Tính từ thời điểm học đến thời điểm tiến đến sử dụng thực tế trong công việc thì với tiếng Anh, một người Việt Nam thông thường sẽ mất tầm 10 năm (7 năm ở trường và 3 năm ở cao đẳng/đại học), còn tiếng Nhật thì chỉ mất tầm 3 đến 6 năm. Dĩ nhiên khi đi học ở trường thì mọi người sẽ không chuyên tâm học như khi tự mình đi học thêm ở ngoài vì công việc, nhưng số lượng người đi học thêm tiếng Anh ở ngoài trong thời gian còn là học sinh không phải cũng nhiều không kém đúng không. Bản thân đại đa phần người Nhật học xong tiếng Anh cũng không sử dụng được.

Vậy thì tiếng Nhật dễ hơn tiếng Anh? Nói như vậy cũng không hẳn đã là đúng. Vì thời điểm bắt đầu học tiếng Nhật của người Việt Nam thường muộn hơn tiếng Anh, cộng với việc chủ động tìm tòi học hỏi, cũng như điều kiện áp dụng thực tế đối với một phần những người đã đi làm nên thời gian học tiếng Nhật có phần được rút ngắn. Đối với những người mới bắt đầu học tiếng Nhật, từng bài học là một sự nỗ lực lớn. Sự khác biệt về chữ viết là một rào cản mà không phải ai cũng vượt qua được. Chưa kể sự khác nhau hoàn toàn về cấu trúc ngữ pháp và cách tư duy đã khiến không ít người từ bỏ việc học tiếng Nhật. Đây cũng là một lý do mà số lượng lớp sơ cấp, trung cấp và cao cấp ở các trung tâm tiếng Nhật lại khác nhau đáng kể như đã viết ở trên.

Các bạn học tiếng Nhật theo chuyên ngành ở trường đại học có thể sẽ khác nhưng những người học tiếng Nhật khác chắc hẳn ai cũng từng phải trải qua nhiều giai đoạn dằn vặt bản thân. Theo chương trình học ở tốc độ bình thường ở các trung tâm tiếng Nhật thì để học hết quyển Minna no Nihongo sơ cấp sẽ mất tầm 1 năm. Hầu hết mọi người sẽ vượt qua được giai đoạn này, học xong Hiragana, Katakana, một lượng không ít từ vựng, ngữ phấp ở thể lịch sự và tầm 150 Kanji. Và học được đến giai đoạn này thì sẽ đủ sức để đỗ JLPT N5. Có thể nói đó đã là một chặng đường dài, nhưng nhìn về phía trước thì đúng là chưa thấy đích ở đâu cả khi mà công việc đòi hỏi trình độ N3 hoặc cao hơn. Khi học tiếng Nhật ở Việt Nam, chặng đường đi từ N5 lên N4 và N4 lên N3 có thể nói là chặng đường mà nhiều người dừng bước nhất. Khi mà bạn còn chưa ngấm hết kiến thức học ở bài trước đã phải đối mặt với bài học mới, kanji mới. Chưa nói đến việc viết Kanji, việc đặt một câu sử dụng ngữ pháp đã học đôi khi cũng trở nên khó khăn. Ở cấp độ này thường người học tiếng Nhật chưa thể chuyển ý thành từ mà vẫn phải “dịch” trong đầu từ tiếng Việt sang tiếng Nhật. Vấn đề này không đơn giản là do tốc độ học nhanh vì có những lớp học tiếng Nhật cấp tốc còn đi nhanh hơn nhiều. Có thể do thiếu môi trường vận dụng, các ví dụ thực tế thì lại quá phức tạp để đối chiếu, hơn nữa giờ học ngắn, không thường xuyên khiến kiến thức tiếng Nhật của người học bị “để vào một góc” như hồi đi học ở trường. Cuộc sống bận rộn, vất vả khiến người học không tập trung được. Có thể nói JLPT N3 như là một điểm mốc được hay mất đối với người Việt Nam học tiếng Nhật. Dự thi 2, 3 lần mà vẫn chưa đỗ là chuyện thường, nhất là khi không tham gia các khóa luyện thi. Nó giống như việc cố đạt được TOEIC 450 để lấy bằng tốt nghiệp đại học vậy.

Đạt được JLPT N3 có thể là bước ngoặt của rất nhiều người. Đi tìm việc, mong muốn mức lương cao hơn, thay đổi công việc… là những việc có thể thấy sẽ xảy ra. Còn việc đạt được N2, N1 hay không thì chắc chỉ có thời gian mới nói được và cũng tùy quyết định của mỗi người. Dĩ nhiên lấy được N2 và N1 thì sẽ có nhiều cơ hội công việc tốt hơn nhiều, nhưng lấy được N3 đã khó rồi, liệu có ai chờ đến khi đạt được N1 không, cứ đi làm rồi nếu có điều kiện thì tự học lên dần là tốt hơn cả… hướng đi như vậy chắc hẳn có trong suy nghĩ của nhiều người.

Thực tế mà nói, nghĩ như vậy cũng có nhiều điểm lợi nếu điều kiện cho phép vận dụng tiếng Nhật trong công việc. Nhìn theo hướng khác, có nhiều người học tiếng Nhật lên đến N1, thi lấy được bằng rồi nhưng không nói được hay không vận dụng được đúng từ khi làm phiên dịch do thiếu kinh nghiệm trong giao tiếp cũng như kiến thức về từ chuyên môn, kém hơn hẳn với những người mới chỉ có N4, N3 nhưng đã làm trong ngành một thời gian dài. Vậy tại sao các công việc phiên dịch, biên dịch vẫn yêu cầu phải có bằng N2, N1 thay vì tuyển những người mới chỉ có bằng N3 rồi hướng dẫn đào tạo họ dần lên? Lý do một phần là vì nhu cầu công việc đòi hỏi sự chính xác về ngữ pháp trong nội dung văn bản được dịch thay vì chỉ đơn thuần là hiểu và truyền đạt ý. Mặt khác, do kinh nghiệm người Nhật ở Nhật cho thấy người nước ngoài học tập và làm việc ở Nhật với trình độ N2 vẫn còn rất nhiều hạn chế. Nói theo cách khác, trình độ N2 mới chỉ là điểm xuất phát cho những người đang học tập và làm việc ở Nhật. Không hẳn là bạn sẽ không đi học hay không làm việc được nhưng đứng ở khía cạch khách quan, người Nhật thấy rằng chỉ những người ở trình độ N2 thì khả năng giao tiếp mới gọi là tạm chấp nhận được và có thể đào tạo cho công việc chính thức. Trong khi đấy bằng N2 ở Việt Nam có thể mang đi xin việc một cách đàng hoàng ở nhiều nơi. Nói như vậy thì tiếng Nhật ở Nhật khác với tiếng Nhật ở Việt Nam à?

Sự thực phần nào đúng là như vậy. Do khác biệt lớn về phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, có thể nói một phần lớn tiếng Nhật được sử dụng ở Nhật bạn sẽ không nghe thấy ở Việt Nam hay được dạy ở bất kỳ một trường lớp nào. Ở đây không nói đến nhứng từ lóng, từ địa phương, thổ ngữ hay những cái tương tự mà đơn giản một phần của tiếng Nhật phổ thông không được sử dụng ở Việt Nam do sự chưa xuất hiện của những đồ vật hay hiện tượng được mô tả bởi những từ đấy hoặc sự lệch lạc về ý nghĩa do bất đồng trong văn hóa. Một cách nào đấy, việc này cũng liên quan đến việc đôi khi có việc người Nhật không hiểu hay hiểu nhầm khi nghe, đọc tiếng Nhật được dịch bởi người Việt Nam học tiếng Nhật ở trong nước.

 

Chi phí ăn uống, sinh hoạt ở Tokyo (Phần 1)

Trong bài viết lần trước về chi phí ăn uống, sinh hoạt ở Tokyo mình đã giới thiệu qua về các loại cửa hàng bán nhu yếu phẩm. Trong đó siêu thị là nơi chuyên bán đồ ăn thức uống và nhìn chung thì giá cả của các siêu thị tương đối đồng đều. Dưới đây là bảng giá (trước thuế) của một số mặt hàng. Bảng giá này không đảm bảo 100% chính xác về giá trần (các loại mặt hàng cao cấp giá khó xác định). Thuế giá trị gia tăng ở Nhật là 8%.

Thịt gà (ức) 60 – 100 yên / 100g
Thịt gà (đùi) 90 – 150 yên / 100g
Thịt lợn băm hoặc thái mỏng 90 – 140 yên / 100g
Thịt lợn steak 140 – 250 yên / 100g
Thịt bò thái mỏng 130 – 280 yên /100g
Thịt bò steak 240 – 500 yên / 100g
130 – 400 yen / 100g
Bắp cải, cải thảo 200 – 260 yên / bắp
Cải ngọt Nhật 150 – 200 yên / mớ
Cải ngọt Nhật 150 – 200 yên / mớ
Giá đỗ 18 – 25 yên / 200g
Giá đỗ 18 – 25 yên / 200g
Đậu hũ 40 – 80 yên / 300g
Gạo 1650 – 3000 yên / 5kg
Dầu thực vật 260 – 400 yên / lít
Sữa, nước hoa quả 90 – 170 yên / lít
Mì ăn liền 100 – 250 yên / gói
Mì tươi (Ramen, udon) 150 – 250 yên / 3 gói
Gia vị (muối, hạt tiêu… ) 150 – 300 yên / gói hoặc lọ
(Thực lượng không nhiều lắm)

 

Nhìn chung nếu bạn mua những hàng rẻ nhất ở siêu thị về tự nấu thì mỗi bữa cơm (có thịt, rau) sẽ tốn khoảng 150 – 250 yên, cũng khoảng bằng một bữa cơm ở nhà. Nếu bạn ra ăn ngoài, hay mua cơm hộp, thì giá sẽ rơi vào khoảng như dưới:

Cơm hộp ở siêu thị, cửa hàng tiện ích 350 – 450 yên / hộp
(Đủ cơm, thịt, cá nhưng hơi ít rau)
Hộp salad rau 150 – 250 yên / hộp
Cơm hàng giá rẻ (Cơm theo suất, thường kèm với thịt lợn xào và súp miso) 450 – 550 yên / suất
Fastfood (Đồ ăn nhanh) hoặc cơm hàng thường thấy 500 – 1000 yên / món, suất
Cơm quán ngon 1400 – 2000 yên / món, suất (đắt hơn cũng có)
Ăn buffee thường tầm 3000 yên trở lên

 

Tính ra, nếu bạn tự nấu với chất lượng tương đương với cơm hộp thì cũng không tiết kiệm được hơn là mấy, được cái là có thể ăn sẽ hợp hơn do mình tự nấu, có thể chọn nguyên liệu rẻ hơn, giảm lượng đi tí và tiết kiệm được tiền công nấu. Dọc theo phố Okubo có 2 cửa hàng bán cơm hộp với giá 290-300 yên / hộp, chủ yếu là cơm và một món ăn mặn nào đấy. Ăn cũng khá là ngon mặc dù hơi thiếu rau. Mình thấy đấy cũng là một lựa chọn được khi học hành hoặc làm việc bận rộn. Mình không có địa chỉ cụ thể nhưng một cửa hàng cách trường Nhật Ngữ KAI tầm 150-200 mét theo hướng Đông (hướng ngược với hướng đi về ga Shin-Okubo), và một cửa hàng cách ga Okubo tầm 500 mét đi về hướng Tây (hướng đi về Kita-Shinjuku).

Nhìn chung ăn uống như vậy khá là chắt bóp nếu như bạn đang không đi làm thêm và khi tiền thuê nhà, tiền học cũng đã rất tốn kém rồi. Ngoài lựa chọn đi mua thực phẩm ở siêu thị hay cửa hàng tiện ích ra thì tùy vào khu vực bạn ở, có thể có những cửa hàng rau, thịt tư nhân, thậm chí là cả một khu chợ với giá cả hợp lý hơn. Hàng hóa ở các cửa hàng tư nhân có thể rẻ hơn, có thể đắt hơn siêu thị, tùy vào nguồn sản phẩm và vị trí cửa hàng. Nếu bạn đi dọc theo phố Okubo (từ Kita-Shinjuku đến Shin-Okubo) thì có một số cửa hàng bán hàng hóa với giá cả rất hợp lý. Ngoài ra thì mình nghe nói khu vực Koenji (高円寺) có rất nhiều cửa hàng bán hàng hóa với giá rẻ. Nếu bạn nào ở gần khu vực đấy hoặc ở xa nhưng 1 tuần đi chợ một lần thì có lẽ nên tạt qua đấy mua sắm. Giá cả ở những cửa hàng như vậy đôi khi chỉ bằng 1/2 hoặc 1/3 trong siêu thị. Dĩ nhiên là các hàng hóa này không cùng một nguồn, nhưng bạn hãy cứ nghĩ như đi mua hàng ở Metro hay Big C vậy.

Nói đến Metro hay Big C, ở Tokyo cũng có một chuỗi siêu thị nổi tiếng chuyên cung cấp hàng bán buôn tên là Gyoumu Suupaa (業務スーパー). Siêu thị này chuyên bán các mặt hàng đóng gói với số lượng lớn, hàng đông lạnh, dĩ nhiên hàng bán lẻ cũng có nhiều và giá vẫn rẻ. Giá ở đây bằng tầm 1/2 hoặc 2/3 so với ở các siêu thị khác. Có rất nhiều chủ các nhà hàng vào đây mua hàng. Theo mình thấy thì hàng hóa ở đây khá là ổn, mặc dù có một số mặt hàng xuất xứ từ Trung Quốc với lượng tiêu thụ cũng không cao lắm thì mình cũng không dám mua. Nhưng nếu bạn mua thực phẩm ở đây thì có thể tiết kiệm được khoảng 1/3 chi phí so với mua ở các siêu thị khác. Siêu thị này ở Koenji và Okubo cũng có.

Tìm được nơi để mua thực phẩm với chất lượng tốt, giá cả phải chăng, đảm bảo bữa ăn hàng ngày có đủ cả chất và cả lượng là việc vô cùng quan trọng để đảm bảo cuộc sống của bạn trong thời gian ở Nhật được ổn định, phục vụ cho học tập cũng như công tác. Những thông tin ở trên của mình cũng chỉ để tham khảo thôi, bạn hãy chịu khó đi quanh tham quan khu vực bạn đang ở, đi học hay đi làm, có khi lại có những phát hiện thú vị đấy. Chúc các bạn thành công và hẹn gặp lại ở một bài viết khác.
よろしくお願いします!

 

Vật giá ở Tokyo rất là đắt đỏ, nhất là về chi phí đi lại và thuê nhà ở. Đối với những bạn không dư dả trong ăn tiêu thì làm thế nào để hàng ngày có được bữa ăn no, đủ chất cũng là vấn đề đáng quan tâm. Trong bài này mình sẽ không đi sâu vào vấn đề nhà cửa hay đi lại mà sẽ tập trung vào những điểm đáng chú ý liên quan đến việc đi chợ, mua bán ở Tokyo, và cũng để các bạn nào chuẩn bị đến sống tại Tokyo có thể chuẩn bị về vật chất cũng như tinh thần.

Lần này đến Tokyo có thể là lần đầu tiên mà bạn một mình ra nước ngoài, tự mình bươn trải cuộc sống xa gia đình. Tùy vào hoàn cảnh mỗi người mà bạn đã có sự chuẩn bị riêng về tiền tài cũng như thông tin, kiến thức về cuộc sống bên Nhật. Nhật Bản là một đất nước tiên tiến, văn minh, hiện đại. Tiện ích cho người dân ở tại đây có rất nhiều bao gồm các nhà hàng, cửa hàng ăn nhanh, cửa hàng tiện ích, máy bán hàng tự động… Tuy nhiên, những tiện ích này không phải là miễn phí, càng tiện ích bao nhiêu thì càng đắt đỏ bấy nhiêu. Thế nên bạn không nên quá kỳ vọng vào các dịch vụ này, ở đây bao gồm cả các bạn mà có dự định đi làm thêm. Nên có sự chuẩn bị thì tốt hơn. Các tiện ích này chỉ nên sử dụng trong trường hợp cần kíp, không tránh được trừ trường hợp bạn có một công việc chính thức, toàn thời gian và cảm thấy giành thời gian cho nghỉ ngơi quan trọng hơn là đi mua bán và nấu nướng.

Các chuỗi cửa hàng ở Tokyo thường bao gồm các loại sau: cửa hàng tiện ích, cửa hiệu thuốc, cửa hàng 100 yên, cửa hàng tạp hóa và siêu thị.

Cửa hàng tiện ích (コンビニ) là các cửa hiệu mở 24/24 như FamilyMart, 7Eleven, Sunkus… Ở đây bán rất nhiều loại đồ tiện ích bao gồm đồ ăn nhanh (bento – cơm hộp, onigiri – cơm nắm, bánh mì kẹp), đồ uống, snacks, ít rau củ, đồ ăn nguội như dăm bông, xúc xích, một số loại nước sốt, xì dầu, văn phòng phẩm, tạp chí… Tùy vào cửa hàng mà có thể có mặt hàng riêng như các loại bánh để ăn sáng, thuốc lá… Ngoài ra các cửa hàng này còn cung cấp dịch vụ in ấn, thanh toán tiền điện, nước, bảo hiểm hay các loại phí khác mà bình thường bạn phải dùng thẻ tín dụng. Giá cả ở các cửa hàng tiện ích này là đắt nhất, có thể cao hơn siêu thì khoảng từ 20% trở lên.

 

Cửa hiệu thuốc (薬局) là các cửa hiệu chuyên bán thuốc (cảm cúm ho, đau nhức…), các loại đồ vệ sinh như xà bông, nước tắm, dầu gội, đến cả những loại chuyên biệt hơn như thuốc nhuộm tóc, thực phẩm chức năng. Nhìn chung giá ở đây đa dạng, hàng hóa được bán theo giá thị trường nên khó có thể nói là đắt hay rẻ. Bản thân mình thì chưa cần mua gì ở đây do cũng không đau ốm và nhu yếu phẩm thì có thể mua được ở chỗ khác.

 

Cửa hàng 100 yên (百円ショップ) là các cửa hiệu mà toàn bộ hàng hóa bên trong đều được bán với giá 100 yên (trừ một số hàng đặc biệt được ghi giá riêng, có thể đắt hoặc rẻ hơn 100 yên). Hai thương hiệu mà mình thường thấy là Can do (キャン・ドゥ) và Daiso Aoyama. Mặt hàng ở đây rẻ và vô cùng đa dạng. Bạn có thể mua toàn bộ bát đũa, cốc chén, dụng cụ nấu nướng (trừ nồi niêu xoong chảo) ở đây. Những đồ cần thiết như dầu gội, nước tắm, hộp bento, hộp đựng thức ăn, văn phòng phẩm… đều có bán. Ngoài ra, ở đây cũng có bán một ít đồ ăn khô và đồ uống. Tuy là mặt hàng giá rẻ nhưng về chất lượng thì vẫn hơn hẳn những đồ tương đương được bán ở cửa hàng tạp hóa ở Việt Nam.

 

Cửa hàng tạp hóa là những cửa hàng bán đủ các loại mặt hàng (như kiểu cửa hàng 100 yên) nhưng với mức giá cao hơn nên có sự khá biệt về chất lượng cũng như tính đa dạng của mặt hàng. Một thương hiệu mà mình biết là Donkihote (ドン・キホーテ). Với những loại hàng hóa mà bạn đã có thể mua ở cửa hàng 100 yên thì có thể thấy một mức nhảy đáng kể về giá. Tuy nhiên về thực phẩm ở đây thì vẫn rẻ hơn hàng bán ở siêu thị một tí (thấp hơn khoảng 5 đến 10%). Ở đây bạn có thể mua được quần áo, túi xách, dụng cụ DIY, xe đạp… và ngoài ra còn có các hàng hóa được nhập từ nước ngoài (bao gồm cả Việt Nam) nữa. Nhìn chung đây là nơi mà bạn có thể tìm mua những nhu yếu phẩm mà không thấy có bán ở nơi khác.

 

– Siêu thị ở Tokyo khác với siêu thị ở Việt Nam. Ở Việt Nam siêu thị có thể coi là một cửa hàng tạp hóa lớn, bán nhiều mặt hàng hơn. Ở Tokyo, các cửa hàng siêu thị chủ yếu tập trung vào một mặt hàng: thực phẩm. Ngoài ra, nếu có thì sẽ bán cả quần áo nữa. Điểm khác biệt nhất giữa siêu thị và các loại cửa hàng khác là ở đây có bán thịt chưa chế xuất và có cả hải sản (tươi hoặc đông lạnh). Ở đây bạn có thể mua gạo (đôi khi cũng có bán cả ở cửa hàng tạp hóa). Hầu như ở siêu thị nào cũng có bán các loại cơm hộp (bento) đủ các chủng loại (đồ ăn mặn, salad, mì, cơm, sushi…). Một số thương hiệu siêu thị phổ biến bao gồm Life (ライフ), Co-op, IOIO (đọc là Marui 丸い), AEON.

Ở trên là các cửa hàng hoạt động theo chuỗi (có thương hiệu, hoạt động ở nhiều địa điểm, chung về tiêu chuẩn, giá cả và mặt hàng). Ngoài ra còn nhiều cửa hàng tư nhân hoạt động với tính chất tương tự cũng rất đáng quan tâm. Với những cửa hàng này mình sẽ giới thiệu qua ở phần tới. Khi mà bạn mới đến Tokyo, chưa nắm rõ đường đi nước bước thì có lẽ việc hỏi đường đến siêu thị gần nhất là cần thiết. Giá cả ở các siêu thị lớn cũng không hẳn là đắt và chất lượng thì cực kỳ đảm bảo. Mình sẽ nói sâu hơn về giá ở phần tới nhưng trước hết về thực phẩm ở Nhật thì hàng nội địa bao giờ cũng đắt hơn hàng nhập khẩu (có cả hàng nhập từ Trung Quốc). Thế nên khi mua đồ ăn thức uống ở các siêu thị chuỗi, hầu hết là bạn đang mua thực phẩm nuôi trồng tại Nhật, có thể yên tâm về chất lượng.

Hy vọng những thông tin ở trên đã giúp ích được cho các bạn. Bài viết tuần này xin được kết thúc ở đây. Tựa đề “Chi phí ăn uống, sinh hoạt ở Tokyo (Phần 2)” sẽ được tiếp tục ở bài viết tới.
よろしくお願いします!

Chi phí ăn uống, sinh hoạt ở Tokyo (Phần 2)

 

Hanami, dịch ra là việc ngắm hoa, hay nói chính xác hơn “ngắm hoa anh đào” là một truyền thống có từ lâu đời của người Nhật Bản. Đây là một vẻ đẹp trong văn hóa Nhật Bản khi mà mọi người cùng nhau chia sẻ niềm vui, khoảnh khắc yên tĩnh, nét đẹp khi ngắm những nụ hoa anh đào nở rộ, nhìn những cánh hoa nhẹ nhàng đung đưa trong gió. Đó là những phút thư giãn đáng quý để người Nhật tạm quên đi những ngày tháng làm việc vất vả. Các đôi vợ chồng trẻ dẫn con nhỏ đi, bạn học rủ nhau đi, cụ bà dẫn cụ ông đi, người có tuổi trong cùng khu phố dẫn nhau đi, ngay cả nhân viên công sở cũng giành một thời gian trong ngày làm việc để cùng đi ngắm hoa. Bạn cùng nhà của mình nói “dù chưa sắp xếp được thời gian đi nhưng nhìn mọi người vui vẻ mình cũng thấy vui lây”.

Bản thân mình có lẽ cũng không hiểu hết được ý nghĩa của việc ngắm hoa đối với người Nhật Bản và đây cũng là lần đầu tiên mình được ngắm hoa anh đào ở Nhật nhưng phải nói là đẹp vô cùng. Hoa anh đào mặc dù được trồng ở trên toàn nước Nhật nhưng không phải ở đâu bạn cũng có thể nhìn thấy. Như khu phố quanh khu vực mình ở thì gần như không thấy có hoa anh đào mà chỉ có các loại cây, hoa khác. Cây hoa anh đào ở Tokyo thường được trồng ở những khu vực rộng như công viên, quảng trường, dọc theo những con sông hay tuyến phố đặc biệt. Vì mình ở gần Shinjuku nên đã quyết định đến vườn quốc gia Shinjuku Gyoen (新宿御苑) gần ga Shinjuku. Bạn bè thì bảo nên đến Nakameguro. Phải công nhận là hoa anh đào ở Nakameguro rất đẹp và lãng mạn nhưng khu vực đấy không rộng lắm, người đến thì đông nên việc ngắm hoa chắc sẽ hơi vất vả. Ảnh ở dưới là hoa anh đào ở Nakameguro.

Quay lại với Shinjuku Gyoen. Đây là một trong những địa điểm tốt nhât để ngắm hoa anh đào ở Tokyo. Mua vé vào cửa hết 200 yên đối với người lớn, với trẻ nhỏ thì miễn phí. Công viên này cực kỳ rộng với diện tích là 58.3ha (583000 mét vuông). Mở cửa từ 9h sáng đến 4h30 chiều. Có 3 lối vào chính: cổng Shinjuku (新宿門), cổng Okido (大木戸門) và cổng Sendagaya (千駄ヶ谷門). Cổng Shinjuku cách ga Shinjuku khoảng 15-20 phút đi bộ theo hướng Đông Nam. Nếu bạn đi vào từ cổng này có lẽ sẽ không nhìn thấy nhiều cây hoa anh đào ngay. Một phần là vì ở một số cây hoa anh đào chưa nở, và cũng là vì hầu hết cây hoa anh đào tập trung ở phía Nam của công viên, gần cổng Sendagaya. Hoa anh đào ở Nhật Bản bắt đầu nở từ cuối tháng ba, và nở rộ vào đầu tháng 4 cho đến tầm cuối tháng 4, đầu tháng 5 thì tàn.

Hôm đi mình đến công viên cũng hơi muộn nên đã không có thời gian để xem kỹ từng nơi. Nếu bạn có đi Hanami ở Shinjuku Gyoen thì nên đến tầm trước trưa một tí để có thể tham quan cả công viên, cũng như để có thể trải nghiệm cảm giác vừa picnic vừa ngắm hoa anh đào. Sau đây là một số ảnh mình chụp ở Shinjuku Gyoen.

 

Cảnh vật đẹp, gần với thiên nhiên, không khí trong lành, đây là một nơi lý tưởng để ngắm hoa anh đào nếu bạn muốn tìm một không gian yên tĩnh. Vì vậy, khi có dịp hãy thử đến Shinjuku Gyoen nhé. Hẹn gặp lại mọi người ở bài viết tới.
よろしくお願いします!