Hiện nay, ngày càng có nhiều các bạn trẻ Việt Nam đi du học tại Nhật, hay người đã đi làm vì muốn thay đổi cuộc sống nên tạm xa gia đình để sang một đất nước mới mưu sinh. Để sống, học tập và làm việc ở đây thì trước sau mọi người cũng phải học ít tiếng Nhật để hỗ trợ bản thân trong sinh hoạt hàng ngày cũng như để tạo cơ hội cho tương lai sau này. Tiếng Nhật ai cũng biết là khó nhưng khi đã tự đưa mình vào một môi trường mà đi đâu cũng nhìn thấy Hán tự, nghe đâu cũng thấy tiếng Nhật thì chẳng mấy những kiến thức căn bản, những câu cửa miệng như xin chào, cảm ơn, hỏi đường chỉ còn là chuyện đã qua.

Tuy nhiên, khi sang đây, sống và tiếp cận với những người bản địa thì dù đã học ở cấp độ nào thì bạn cũng có thể nhận thấy văn nói của người Nhật khác đáng kể so với những gì bạn đã học qua sách vở. Sự thêm bớt âm tiết để làm cho luồng câu trở nên tự nhiên hơn, việc thay đổi cách phát âm của một số trạng từ như と(tô) thành って (..tê) khi trích dẫn, việc sử dụng của nhiều từ ghép mà chỉ áp dụng được ở Nhật như 終電 (shuuden), ý chỉ chuyến tàu điện cuối cùng trong ngày, việc vận dụng một cách tràn lan của những từ mượn của tiếng nước ngoài…v.v. Thực sự mà nói tiếng Nhật cũng như tiếng Việt vậy, khi nói chuyện bình thường cũng thể hiện được những sự biến tấu trong ngữ pháp như sự ví von, so sánh, nói quá, nói giảm, nói tránh, thể hiện sự ngập ngừng, không chắc chắn, hay nói ra những điều bất kính, nghi ngờ, nói bóng gió. Điểm khác nhất khiến cho người học tiếng Nhật ít được tiếp cận với những vấn đề này là do văn hóa của người Nhật Bản khác với Việt Nam. Khi quan hệ không quá thân mật, người Nhật thường nói chuyện theo thể lịch sự, dùng kính ngữ, ngữ pháp tiêu chuẩn, nhất là với người nước ngoài. Đây là tiếng Nhật mà người mới học tiếng Nhật biết đến và cũng là lý do desu, masu được dạy đầu tiên trong sách giáo khoa tiếng Nhật thay vì thể cơ bản chiểu theo từ điển của các động từ. Khi quan hệ không quá thân mật, người Nhật sẽ tỏ ra rất tốt bụng và ít khi thể hiện sự bất đồng ý kiến một cách trực tiếp để tránh làm tổn thương đến tâm lý của người nghe. Đây là nguyên nhân vì sao bạn ít khi thấy được những mặt còn lại của người Nhật, cũng như tiếng Nhật.

Dĩ nhiên, theo quan điểm là sử dụng tiếng Nhật trong môi trường công việc, nhất là khi ở Việt Nam thì việc không biết về những điểm trên không có gì là bất lợi. Điểm đáng nói ở đây là bản chất tiếng Nhật thông dụng khác với tiếng Nhật được dạy trong sách vở nhiều và do thiếu sự hợp tác từ cả hai phía (Việt Nam, Nhật Bản) trong việc tạo dựng những tài liệu đầy đủ hơn để mô tả cách sử dụng từ vựng cũng như ngữ pháp trong những hoàn cảnh cụ thể dẫn đến việc người học mắc lỗi khi sử dụng tiếng Nhật. Lấy ví dụ một cách cụ thể hơn, tiếng Nhật chia sẻ với tiếng Việt việc hình thành và phát triển từ tiếng Trung và Hán tự khiến cho nhiều từ ghép của tiếng Nhật, khi dịch ngang bằng Hán tự ra tiếng Việt có thể cho rất nhiều từ có cùng cách phát âm với tiếng Việt hiện đại. Ví dụ như 無理 (mư ri), dịch từng chữ theo Hán-Việt thì sẽ được từ “Vô lý”. Trong tiếng Việt, “Vô lý” thường được dùng để mô tả những tình huống không mang tính logic, suy diễn theo chứng cứ, trình tự là việc không thể xảy ra được và nhìn chung là ít khi được nhắc đến. Trong tiếng Nhật, ngoại trừ ý như trên, “Vô lý” còn được dùng để mô tả những tình huống như yêu cầu một điều gì đấy khó (nhưng không phải không thể), hoặc chỉ đơn giản là làm phiền người nghe. Điều này dẫn đến việc từ “Vô lý” được sử dụng thường xuyên trong những câu cảm thán, hay lời xin lỗi. Ví dụ như thay vì nói “Cái này tôi không làm được (không muốn làm, không chấp thuận, không đồng ý, từ chối)”, thì sẽ nói “Cái này là vô lý”. Hay thay vì nói “Xin lỗi vì đã gây khó cho (làm phiền) anh”, thì sẽ nói “Xin lỗi vì đã làm điều vô lý”.

Tương tự như trên, có rất nhiều từ vựng mà có thể dịch trực tiếp thành từ có trong tiếng Việt hiện đại thông qua việc dịch cách phát âm Hán tự, nhưng bản chất ý nghĩa của từ đấy, trường hợp có thể sử dụng được, trường hợp không thể sử dụng được thì không hề được nhắc đến. Có thể từ ngày xưa khi những từ này được tạo ra và sử dụng, có lẽ ý nghĩa và cách sử dụng cũng không khác nhau mấy. Nhưng qua thời gian, những biến động của lịch sử, do ảnh hưởng của văn hóa, việc vận dụng của những từ này thay đổi tùy theo con người của từng đất nước. Thế nên khi nghe người Nhật nói tiếng Nhật, nếu cứ hiểu tiếng Nhật theo cách hiểu tiếng Việt của người Việt Nam thì đôi khi sẽ cảm thấy giật mình nếu chưa quen. Sẽ nhìn thấy được hiện tượng này một cách rõ ràng hơn nếu suy nghĩ theo hướng ngược lại, thay vì hiểu tiếng Nhật bằng cách dịch ngang sang tiếng Việt, hãy thử xem khi người Nhật sử dụng tiếng Anh với cách tư duy theo tiếng Nhật thì sẽ như thế nào (Lấy ví dụ bằng tiếng Anh thay vì tiếng Việt vì văn hóa hai nước khác nhau nhiều hơn và lượng người Nhật sử dụng tiếng Anh cũng nhiều hơn người sử dụng tiếng Việt).
Ví dụ sau khi trao đổi một điều gì đấy và muốn hỏi “(còn) có vấn đề gì không”, thì người Nhật sẽ nói “問題がありませんか” hay “問題ない” và nhấn giọng ở cuối câu. Thế nhưng khi một người Nhật không thạo tiếng Anh hoàn toàn nói ý tương tự bằng tiếng Anh thì sẽ thành “Is there a problem?” và nhấn giọng ở cuối câu. Cách nói này trong văn hóa bản địa thì có phần xấc xược, thiếu sự tôn trọng người nghe.
Sự khác nhau về văn hóa dẫn đến sự khác nhau trong việc vận dụng ngôn ngữ. Có những điều bạn nghe, nếu hiểu theo ý tiếng Việt đôi khi sẽ thấy lạ, giật mình, thiếu sự tôn trọng nhưng thực tế người nói không có ý gì cả. Ngay cả việc nói dối, giả vờ nhiệt tình, tốt bụng trước mặt nhưng thực lòng không hề suy nghĩ như điều mình nói ra hay còn gọi là 建前 (ta tê ma ê) cũng là một phần văn hóa của người Nhật. Họ hiểu, nhận thức được bản chất của việc này nhưng vì nó là việc xảy ra hàng ngày, thậm chí được cho là cần thiết khi tiếp khách nên không hoàn toàn phê phán.

Ngày nay, tiếng Nhật đang thay đổi liên tục. Ngày càng có nhiều từ nước ngoài được du nhập vào Nhật và được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày. Trong khi đó nhiều từ ở Nhật dần dần bị loại bỏ gần như hoàn toàn, không được sử dụng hoặc sử dụng khác với bản chất ban đầu. Ví dụ nhu từ ご飯 (gô han), có nghĩa là cơm, nhưng bây giờ chỉ còn nghĩa chỉ một bữa ăn trong ngày. Còn để nói đến “cơm” thì chỉ có thể dùng từ ライス (ra i su hay “rice” trong tiếng Anh). Khi bạn vào quán ăn hỏi xin thêm ご飯 thì người phục vụ sẽ không hiểu ý bạn muốn gì. Không chỉ có từ mượn của nước ngoài, do sự phát triển của xã hội và khoa học kỹ thuật cũng có nhiều từ ghép tiếng Nhật được tạo ra cho phù hợp với thuật ngữ chuyên ngành. Có những từ bạn không thể tra ra từ từ điển mà phải tìm trên mạng và đọc trực tiếp lời giải thích bằng tiếng Nhật. Có lẽ tầm 20 đến 30 năm sau, tiếng Nhật sẽ khác nhiều so với bây giờ. Khi ấy người học tiếng Nhật chỉ có thể hy vọng trong công tác đối ngoại, người Nhật vẫn giữ phần nào văn phong và cách nói chuyện như đã phổ biến trong sách vở.